Giống cà phê Robusta TR4 và TR9 cùng Catimor: khác nhau ở điểm nào và vì sao chọn giống quyết định cả chu kỳ vườn chứ không chỉ một vụ

SO SÁNH 3 GIỐNG CÀ PHÊ TR4, TR9 VÀ CATIMOR

Đứng trước một vườn cà phê già cần tái canh, câu hỏi đầu tiên của nông hộ thường là trồng giống nào. Ba cái tên được nhắc nhiều nhất là TR4, TR9 và Catimor, nhưng ba cái tên này không cùng một họ. TR4 và TR9 là hai dòng vô tính Robusta do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên chọn tạo cho điều kiện Việt Nam, còn Catimor là một họ giống lai Arabica ra đời ở Bồ Đào Nha với gen kháng bệnh lấy từ Robusta. Bài này đối chiếu ba cái tên theo nguồn gốc, đặc tính và hướng sử dụng, dựa trên mô tả giống và nghiên cứu đã công bố.

Catimor không phải là một giống duy nhất mà là cả một họ giống có chung nguồn gốc lai tạo, nên hai vườn cùng trồng Catimor vẫn có thể cho kết quả khác nhau tùy dòng chọn và điều kiện trồng.

1. Ba cái tên, ba nguồn gốc khác nhau

TR4 và TR9 thuộc thế hệ giống Robusta mà Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên, trước đây gọi là Viện Nghiên cứu Cà phê, chọn tạo trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2010. Theo tường thuật về khoa học công nghệ cà phê Việt Nam, trong mười năm đó viện đã tạo ra chín giống Robusta từ TR4 đến TR13 bằng lai tạo và chọn lọc, tất cả đều được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận [1].

Nhóm giống mới này cho năng suất từ 4,5 đến 7,3 tấn hạt trên mỗi hecta, cao hơn khoảng 30 phần trăm so với giống truyền thống, hạt to hơn với khối lượng 100 hạt từ 17 đến 23 gam, và quan trọng nhất là khả năng kháng bệnh gỉ sắt rất tốt [1].

Đây là lý do TR4 và TR9 trở thành hai cái tên quen thuộc nhất trong các chương trình tái canh ở Tây Nguyên.

Catimor đi một con đường hoàn toàn khác. Câu chuyện bắt đầu từ cây lai Timor, một cây lai tự nhiên giữa cà phê Arabica và cà phê canephora xuất hiện trên đảo Timor vào đầu thế kỷ 20, mang trong mình gen kháng bệnh gỉ sắt lấy từ Robusta [2]. 

  • Năm 1958, Trung tâm Nghiên cứu Bệnh gỉ sắt Cà phê ở Oeiras, Bồ Đào Nha nhận được hạt của cây lai Timor và chọn ra hai cây có khả năng kháng gỉ sắt mạnh, mang mã CIFC 832/1 và CIFC 832/2 [2].
  • Năm 1967, các nhà nghiên cứu lai hai cây này với giống Caturra đỏ, một dạng đột biến lùn của Bourbon, và hai dòng lai tạo thành mang tên HW26 và H46, sau đó được biết đến với tên Catimor [2]. Bệnh gỉ sắt đến Brazil năm 1970 rồi lan khắp châu Mỹ càng làm tăng giá trị của nguồn gen này [2].

Tóm lại, TR4 và TR9 được chọn cho năng suất Robusta ở Tây Nguyên, còn Catimor được tạo ra để đưa gen kháng bệnh vào cây Arabica dáng thấp, nên đánh giá hai nhóm bằng cùng một thang điểm sẽ làm mất bức tranh đầy đủ.

Dòng dõi lai tạo của họ giống Catimor Bourbon đột biến lùn tự nhiên thành giống Caturra Cây lai Timor lai Arabica với canephora mang gen kháng bệnh gỉ sắt + Lai tạo năm 1967 tại CIFC, Bồ Đào Nha dòng HW26 và H46 ↓ Họ giống Catimor Costa Rica 95, Lempira, Catisic, IHCAFE 90, Oro Azteca Mỗi nước chọn lọc tiếp nên các dòng không hoàn toàn giống nhau.

Sơ đồ minh họa, vẽ bằng mã từ lịch sử lai tạo đã có nguồn kiểm chứng, không phải cây phả hệ đo đạc thực nghiệm.

Sơ đồ trên tóm tắt lịch sử lai tạo theo hướng dẫn giống của Ozone Coffee: hạt cây lai Timor đến CIFC năm 1958, hai cây chọn CIFC 832/1 và CIFC 832/2 được lai với Caturra đỏ từ năm 1967, và các dòng thành phẩm HW26 và H46 trở thành Catimor [2]. Cũng theo nguồn này, tên Catimor chỉ một họ giống có quan hệ họ hàng chứ không phải một cây giống đồng nhất, nên người mua cần hỏi rõ dòng cụ thể và nguồn gốc vườn ươm [2].

2. TR4 và TR9 khác nhau ở điểm nào

Trong cùng một thí nghiệm so sánh giống của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên công bố trên Tạp chí Khoa học Việt Nam năm 2017, TR4 đạt năng suất bình quân 7,3 tấn trên mỗi hecta, TR9 đạt 6,7 tấn trên mỗi hecta, và cả hai đều có chỉ số bệnh gỉ sắt ngoài đồng bằng 0, tức không ghi nhận bệnh trong điều kiện thí nghiệm [3]. Cùng thí nghiệm này cũng ghi nhận giống TR11 đạt 6,6 tấn trên mỗi hecta với chỉ số gỉ sắt bằng 0 [3]. Vì ba giống trồng và chăm sóc trong cùng điều kiện thí nghiệm nên các con số này so sánh được với nhau.

Mô tả giống lưu hành bổ sung thêm đặc tính hình thái và chất lượng hạt. TR4 sinh trưởng khỏe, cây cao trung bình, phân cành nhiều, cành hơi rủ; quả chín màu đỏ cam, hình trứng ngược; mỗi kilogam có từ 750 đến 800 quả; tỷ lệ quả tươi trên nhân là 4,1; khối lượng 100 hạt là 17,1 gam; tỷ lệ hạt loại 1 là 70,9 phần trăm; hàm lượng caffeine là 1,68 gam trên 100 gam chất khô; năng suất khoảng 7 tấn trên mỗi hecta; thời gian thu hoạch từ ngày 15 tháng 11 đến ngày 15 tháng 12; kháng gỉ sắt cao [4]. TR9 sinh trưởng tốt, lá xanh đậm, quả chín màu đỏ huyết, quả to, kháng gỉ sắt tốt, tỷ lệ hạt đặc biệt trên 80 phần trăm, năng suất 5,5 tấn trên mỗi hecta theo bản mô tả này [4].

Năng suất TR9 trong mô tả lưu hành là 5,5 tấn, thấp hơn con số 6,7 tấn trong thí nghiệm của viện, nhưng đây là khác biệt giữa điều kiện thí nghiệm chăm sóc đồng đều và điều kiện vườn sản xuất thực tế. Bài này giữ cả hai con số kèm nguồn của từng con số, vì bỏ đi một con số sẽ làm mất thông tin người trồng cần khi ước tính thu nhập.

Về thời gian thu hoạch, mô tả lưu hành ghi TR4 từ ngày 15 tháng 11 đến ngày 15 tháng 12 [4], trong khi báo cáo tái canh gần đây cho biết nhóm giống chín muộn có thể kéo đến tháng 1 và tháng 2, trùng mùa khô nên thuận lợi cho thu hái và tiết kiệm một lần tưới [5]. Hai ghi nhận khác nhau vì thời gian chín thay đổi theo độ cao, khí hậu từng vùng và tuổi cây, nên người trồng nên hỏi vườn ươm và nông hộ lân cận về lịch chín tại chính vùng mình.

Năng suất bình quân trong cùng một thí nghiệm so sánh giống Đơn vị: tấn hạt trên mỗi hecta, nguồn: thí nghiệm so sánh giống của viện 7,3 TR4 6,7 TR9 6,6 TR11

Biểu đồ minh họa, vẽ bằng mã từ đúng ba con số năng suất trong cùng một thí nghiệm, không thêm đường xu hướng hay mốc so sánh ngoài thí nghiệm.

3. Catimor không phải là Robusta, và hương vị của nó chia hai ngả

Catimor là cây Arabica lai, không phải cây Robusta, nhưng khoảng một phần tư nguồn gen của nó đến từ Robusta thông qua cây lai Timor [2]. Nguồn gen này mang lại khả năng kháng bệnh gỉ sắt mạnh, đồng thời mang theo cả những đặc tính của Robusta mà người uống có thể nhận ra trong tách cà phê. Một nghiên cứu đăng trên tạp chí Scientific Reports cũng xác nhận Catimor là kết quả lai giữa Caturra và cây lai Timor, và khả năng kháng bệnh gỉ sắt của nó đến từ gen của Robusta [6].

Hướng dẫn giống của Ozone Coffee mô tả sự chia hai ngả của Catimor rất rõ. Trồng thấp và sơ chế vội, Catimor có thể cho tách cà phê nặng mùi đất và cao su. Trồng trên 1.000 mét và sơ chế cẩn thận, Catimor cho hương gia vị, trái cây sẫm, nhục đậu khấu và hậu vị tròn đầy, và các nhà sản xuất ở tỉnh Lâm Đồng cùng các trang trại trên cao ở Trung Mỹ đang chứng minh phiên bản thứ hai không phải là ngoại lệ [2].

Một ưu điểm thực tế khác của Catimor là dáng cây thấp nhờ đột biến lùn của Caturra, nên trồng được mật độ cao hơn và thu hái dễ hơn. Với người trồng Việt Nam, Catimor phù hợp nhất ở vùng cao nguyên có độ cao đủ lớn cho Arabica, chứ không phải là giống thay thế trực tiếp cho TR4 và TR9 trên vườn Robusta ở độ cao thấp.

4. Bảng so sánh TR4, TR9 và Catimor

Tiêu chíTR4TR9Catimor
Nguồn gốcDòng vô tính Robusta do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên chọn tạo, giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2010Cùng chương trình chọn tạo với TR4, cùng viện và cùng giai đoạnHọ giống lai Arabica, lai tạo tại CIFC Bồ Đào Nha năm 1967 từ Caturra và cây lai Timor
Dạng câySinh trưởng khỏe, cây cao trung bình, phân cành nhiều, cành hơi rủSinh trưởng tốt, lá xanh đậmDáng thấp nhờ đột biến lùn của Caturra, trồng dày và thu hái dễ
Quả và hạtQuả chín đỏ cam, hình trứng ngược; từ 750 đến 800 quả mỗi kilogam; tỷ lệ quả tươi trên nhân 4,1; 100 hạt 17,1 gam; hạt loại 1 đạt 70,9 phần trăm; caffeine 1,68 gam trên 100 gam chất khôQuả chín đỏ huyết, quả to; tỷ lệ hạt đặc biệt trên 80 phần trămHạt của cây Arabica lai, chất lượng tách phụ thuộc mạnh vào độ cao và sơ chế
Năng suất7,3 tấn trên mỗi hecta trong thí nghiệm so sánh giống; khoảng 7 tấn trong mô tả lưu hành6,7 tấn trên mỗi hecta trong thí nghiệm so sánh giống; 5,5 tấn trong mô tả lưu hànhCao theo mô tả định tính, không có con số thí nghiệm chung vì Catimor là cả một họ giống
Kháng bệnh gỉ sắtCao; chỉ số bệnh ngoài đồng bằng 0 trong thí nghiệmTốt; chỉ số bệnh ngoài đồng bằng 0 trong thí nghiệmMạnh nhờ gen kháng bệnh từ cây lai Timor
Thời gian thu hoạchTừ ngày 15 tháng 11 đến ngày 15 tháng 12 theo mô tả lưu hành; nhóm giống chín muộn trong báo cáo tái canh có thể kéo đến tháng 1 và tháng 2 tùy vùngChưa có trong các mô tả đã kiểm chứng cho bài nàyTheo mùa vụ Arabica của vùng trồng, không có mốc chung cho cả họ giống
Hướng sử dụngTrồng tái canh Robusta thương phẩm ở Tây Nguyên, ưu tiên năng suất và hạt toTrồng tái canh Robusta thương phẩm, ưu tiên tỷ lệ hạt đặc biệt caoTrồng Arabica ở vùng cao, ưu tiên kháng bệnh và dáng cây thấp

Lưu ý: Người trồng cần mốc thu hoạch của TR9 nên hỏi trực tiếp vườn ươm có kinh nghiệm hoặc nông hộ đã trồng TR9 tại vùng mình.

5. Vì sao nhân giống vô tính giữ được đặc tính của cây mẹ

Chọn tạo giống chỉ là một nửa câu chuyện, nửa còn lại là nhân giống sao cho đặc tính đã chọn không bị pha loãng khi đưa ra vườn lớn. Robusta thụ phấn chéo nên hạt gieo từ quả của cây tốt sẽ phân ly, cho cây con khác nhau. Vì vậy các giống TR4 và TR9 được nhân bằng phương pháp vô tính, cụ thể là ghép chồi non, để mọi cây con đều giữ đúng đặc tính của cây đầu dòng đã chọn [4]. Bài về kỹ thuật ghép chồi nêm đỉnh để trẻ hóa vườn già áp dụng cùng nguyên tắc này khi cải tạo vườn cây lâu năm.

Trường hợp ngoại lệ đáng chú ý là giống TRS1. Đây là giống tổng hợp đa dòng, tức gồm nhiều dòng khác nhau phối hợp thành một giống gieo hạt, với các dòng bố mẹ là TR4, TR9, TR11 và TR12, do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên lai tạo và được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận đưa vào sản xuất toàn quốc năm 2015 [7]. Theo cơ sở dữ liệu giống của World Coffee Research, TRS1 cho năng suất từ 4.000 đến 5.000 kilogam trên mỗi hecta, hạt cỡ trung bình từ sàng 15 đến sàng 16, độ cao tối ưu khoảng từ 400 đến 900 mét, tỷ lệ quả tươi ra nhân 22 phần trăm, cho thu hoạch từ năm thứ ba và trồng với mật độ từ 1.000 đến 2.000 cây trên mỗi hecta khi tạo hình một thân [7].

Quy mô của phong trào tái canh cho thấy quyết định chọn giống đang diễn ra trên diện rộng. Từ năm 2021 đến năm 2025, gần 75.000 hecta cà phê trên khắp Tây Nguyên đã được tái canh, phần lớn dùng các giống Robusta năng suất cao và kháng gỉ sắt tốt như TR4, TR9, TR11, TR13 và TRS1 [5]. Cũng theo bài báo này, thời gian kiến thiết cơ bản của một vườn tái canh kéo dài từ 3 đến 5 năm, và từ năm 2024 nhiều nông hộ chần chừ tái canh vì sợ mất thu nhập trong giai đoạn cây chưa cho thu hoạch, cộng với việc vốn vay giải ngân theo từng giai đoạn và mỗi lần giải ngân đều cần kiểm tra tiến độ [5]. Con số 3 đến 5 năm chính là lý do vì sao chọn sai giống đắt hơn nhiều so với chọn sai một loại phân bón: phân bón sai sửa được trong một vụ, giống sai phải trả giá trong cả một chu kỳ vườn.

Dòng thời gian chọn tạo giống: từ cây lai Timor đến vườn tái canh 1958 Hạt cây lai Timor đến CIFC 1967 Lai tạo Catimor từ Caturra và Timor 1970 Gỉ sắt đến Brazil rồi lan khắp châu Mỹ 2000 đến 2010 Chín giống Robusta từ TR4 đến TR13 2015 TRS1 được công nhận đưa vào sản xuất Giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2025: gần 75.000 hecta cà phê Tây Nguyên được tái canh bằng các giống mới.

Sơ đồ minh họa, vẽ bằng mã từ các mốc thời gian đã có nguồn kiểm chứng, không phải kết quả điều tra thực địa.

6. Chọn giống theo vườn của mình

Thay vì hỏi giống nào tốt nhất, người trồng nên hỏi giống nào hợp với vườn của mình nhất. Bốn tình huống dưới đây là cách đối chiếu nhanh trước khi đặt cây.

Vườn Robusta ở độ cao thấp và trung bình, ưu tiên năng suất và hạt to

TR4 là lựa chọn trực diện nhất, với năng suất thí nghiệm 7,3 tấn trên mỗi hecta và tỷ lệ hạt loại 1 đạt 70,9 phần trăm trong mô tả lưu hành.

Vườn Robusta muốn tỷ lệ hạt đặc biệt cao hơn

TR9 đáng cân nhắc, với tỷ lệ hạt đặc biệt trên 80 phần trăm trong mô tả lưu hành, dù năng suất thí nghiệm 6,7 tấn thấp hơn TR4 một chút.

Vườn Arabica ở vùng cao, bệnh gỉ sắt là nỗi lo lớn nhất

Catimor là lựa chọn hợp lý, với gen kháng bệnh từ cây lai Timor và dáng cây thấp dễ chăm sóc, nhưng cần độ cao đủ lớn và sơ chế cẩn thận để tách cà phê không bị gắt.

Vườn muốn gieo hạt thay vì mua cây ghép

TRS1 là giống tổng hợp đa dòng gieo được bằng hạt, với các dòng bố mẹ là TR4, TR9, TR11 và TR12, nhưng cần chấp nhận cây trong vườn không đồng đều như cây ghép vô tính.

Dù chọn tình huống nào, ba nguyên tắc vẫn giữ nguyên. Thứ nhất, mua cây giống có nguồn gốc rõ ràng, vì cây giống trôi nổi có thể mang tên TR4 nhưng không mang gen của TR4. Thứ hai, đối chiếu lịch chín và nhu cầu nước tưới với điều kiện vườn của mình. Thứ ba, kết hợp chọn giống với kế hoạch chăm sóc và tái canh nhiều năm, vì giống tốt mà thiếu nước và phân bón đúng lúc vẫn không đạt năng suất đã công bố. Bạn đọc đang tính bài toán tái canh có thể đọc thêm bài về bẫy dòng tiền ngắn hạn và bài toán tái đầu tư vườn già để thấy vì sao giai đoạn từ 3 đến 5 năm không có thu hoạch cần được tính trước khi đốn vườn cũ.

7. Bốn hiểu sai thường gặp

Hiểu sai thứ nhất: TR4 và TR9 chỉ khác nhau ở tên. Hai giống khác nhau về dáng cây, màu quả, tỷ lệ hạt và năng suất, và khác nhau cả ở tỷ lệ hạt đặc biệt, nên hợp với hai mục tiêu vườn khác nhau.

Hiểu sai thứ hai: giống năng suất cao tự khắc cho tách cà phê ngon. Năng suất đo bằng tấn hạt, chất lượng tách đo bằng hương vị và độ sạch của tách. Một giống có thể đứng đầu về tấn mà vẫn cần sơ chế tốt mới cho tách ngon, và Catimor là ví dụ rõ nhất cho điều này.

Hiểu sai thứ ba: trồng giống mới là đủ, không cần thay đổi chăm sóc. Giống mới chỉ phát huy khi đủ nước, đủ dinh dưỡng và đúng mật độ. Trồng giống mới theo cách chăm sóc của vườn cũ là cách nhanh nhất để thất vọng về giống mới.

Hiểu sai thứ tư: giống đặc sản và giống thương mại có thể đánh giá bằng cùng một thang điểm. Geisha, Wush Wush hay Typica được đánh giá bằng độ phức tạp hương và giá trị đấu giá, còn TR4 và TR9 được đánh giá bằng tấn hạt, tỷ lệ hạt loại 1 và khả năng kháng bệnh. Bạn đọc muốn đối chiếu có thể đọc bài về thoái hóa di truyền ở dòng Arabica Typica và bài về tiềm năng đặc sản của cà phê Liberica để thấy thang điểm của nhóm đặc sản khác hẳn nhóm thương phẩm.

Ghi chú thực hành

Chọn giống là một trong rất ít quyết định trong nghề cà phê mà hậu quả kéo dài cả một chu kỳ vườn. Vì vậy quyết định này xứng đáng được đối chiếu chậm rãi: đọc mô tả giống, hỏi vườn ươm về dòng cụ thể, hỏi nông hộ lân cận về lịch chín và bệnh hại tại chính vùng mình, và tính trước giai đoạn từ 3 đến 5 năm kiến thiết trước khi đốn vườn cũ. TR4 cho năng suất cao nhất trong nhóm thí nghiệm, TR9 cho tỷ lệ hạt đặc biệt cao hơn, Catimor cho kháng bệnh và dáng cây thấp ở vùng cao, và TRS1 cho lựa chọn gieo hạt từ chính các dòng bố mẹ TR. Không có giống nào thắng ở mọi tiêu chí, chỉ có giống hợp nhất với từng vườn. Bạn đọc muốn đặt quyết định này trong bức tranh lớn hơn của cà phê Robusta Việt Nam có thể đọc bài về dấu ấn chất lượng Robusta Việt Nam từ Buôn Ma Thuột.

Ảnh bìa: Bàn tay đeo găng đang hái quả cà phê đỏ tại Đắk Nông, Việt Nam, ảnh của Ninh Tien Dat trên Pexels, giấy phép sử dụng miễn phí, mã ảnh 18151130.

Nguồn tham khảo

  1. Science-technology fuels Vietnamese coffee's growth, Hanoi Times, 2015: Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên tạo ra chín giống Robusta từ TR4 đến TR13 trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2010, năng suất từ 4,5 đến 7,3 tấn, cao hơn khoảng 30 phần trăm so với giống truyền thống, khối lượng 100 hạt từ 17 đến 23 gam. quay lại đoạn trích dẫn
  2. Catimor: The story of a rust-resistant coffee variety, Ozone Coffee: hạt cây lai Timor đến CIFC năm 1958, lai tạo với Caturra đỏ từ năm 1967, dòng HW26 và H46, bệnh gỉ sắt đến Brazil năm 1970, họ giống gồm Costa Rica 95, Lempira, Catisic, IHCAFE 90, Oro Azteca, trồng trên 1.000 mét cho tách cà phê tốt hơn. quay lại đoạn trích dẫn
  3. Nghiên cứu chọn tạo giống Robusta tại Việt Nam, Tạp chí Khoa học Việt Nam, tập 59, số 4, tháng 12 năm 2017: năng suất thí nghiệm TR4 7,3 tấn trên mỗi hecta, TR9 6,7 tấn, TR11 6,6 tấn, chỉ số bệnh gỉ sắt ngoài đồng bằng 0. quay lại đoạn trích dẫn
  4. Các giống Robusta được chứng nhận tại Việt Nam, Helena Coffee Vietnam, 2021: mô tả TR4, TR5, TR6, TR7, TR8, TR9, TR11, TR12, TR13, trong đó TR4 năng suất khoảng 7 tấn trên mỗi hecta và TR9 năng suất 5,5 tấn trên mỗi hecta. quay lại đoạn trích dẫn
  5. Replanted coffee achieves outstanding productivity, Báo Nông nghiệp và Môi trường: gần 75.000 hecta tái canh từ năm 2021 đến năm 2025, các giống TR4, TR9, TR11, TR13 và TRS1, thời gian kiến thiết cơ bản từ 3 đến 5 năm. quay lại đoạn trích dẫn
  6. Early growth phase and caffeine content response to recent and projected increases in atmospheric carbon dioxide in coffee, Scientific Reports, Springer Nature, DOI: 10.1038/s41598-020-62818-x: Catimor là kết quả lai giữa Caturra và cây lai Timor, kháng bệnh gỉ sắt nhờ gen Robusta, caffeine Robusta khoảng 1,7 phần trăm so với Arabica khoảng 1 phần trăm. quay lại đoạn trích dẫn
  7. Hồ sơ giống TRS1, World Coffee Research: giống tổng hợp đa dòng với các dòng bố mẹ TR4, TR9, TR11, TR12, công nhận năm 2015, năng suất từ 4.000 đến 5.000 kilogam trên mỗi hecta, hạt sàng 15 đến 16, độ cao tối ưu từ 400 đến 900 mét, tỷ lệ quả tươi ra nhân 22 phần trăm. quay lại đoạn trích dẫn